Thursday, January 19, 2012

Giới Thiệu Sách









Tập sách gồm những bài viết về những phi vụ đẫm máu nhất trong giai đoạn chiến tranh 
Việt Nam lên đến cao độ, cũng như những chuyện vui buồn bên lề của một 
Hoa Tiêu Trực Thăng Võ Trang thuộcPhi Đoàn 215 Thần Tượng, 
Không Đoàn 62 Chiến Thuật, Sư Đoàn II. Sách dày trên
bốn trăm trang được trình bày mỹ thuật 
với nhiều hình ảnh màu 
và đen trắng.

Đặng Chí Bình: Đọc "Trên Vòm Trời Lửa Đạn"


      Kính thưa những người đọc,

      Hầu hết chúng ta đọc mà đọcnhiều sách báo ngoại quốc, cũng như của đất nước Việt Nam chúng ta kính yêu. Có nhữngtác phẩm lâu bền với thời gian, ngược lại có những tác phẩm sôi nổi lúc ban đầu,..rồidần dần đi vào quên lãng theo năm tháng…Vì sao như thế?

     Hàng chụcyếu tố phải đề cập, nhưng một yếu tố không thể thiếu, là lòng chân thành và tôntrọng sự thật của tác giả. Muốn viết sự thật, phải là người có bản lĩnh, gắn hữucơ với lòng tự trọng và sự tôn trọng người khác. Ðừng bao giờ nghĩ: “ Mìnhkhông viết sự thật mà người khác không thể biết”. Thưa qúy vị, dù là một điệpviên, tôi vẫn tuân theo lời giáo huấn của Tổ tiên, cha ông của dân tộc Việt: Thật thà là cha quỷ quái. Là mộttình báo đi vào lòng địch, nhưng vì kém khả năng, nên đã rơi vào tay kẻ thù, phảivào nằm trong Hỏa Lò Hà Nội từ đầu 1962. Do nhữnghoán đổi giữa diện và điểm có kỹ thuật và gặp thời... VC đã chiếm được địa điểmchiến lược khởi đầu, là Ban Mê Thuật ngày 13/ 3/ 1975. Lòng tôi vặn vò, quằn quạitrong ngục tối Hỏa Lò, với bao nhiêu tin tức hỗn tạp xuyên tạc, bóp méo củađài, báo của CS,.. tôi không thể biết rõ nguyên nhân. Rồi mãi tới đầu 1984, tôivượt biển đến Mỹ. Ngoài những thời gian mưu sinh bắt buộc, tôi xục xạo, tìm tòiqua những chứng liệu người và tài liệu, để cỡi ra những điều tôi ấm ức ở trongtù.
     QuaGoogle, tôi lang thang vào những web. blog. như Cánh Thép. Bảo Vệ Cờ Vàng v.v…Trong cái rừng, núi bao la tin tức của thế giới tự do… Trải qua kinh nghiệm củanghiệp vụ, tôi đã đánh hơi thấy một chàng phi công trẻ: Vincent Vĩnh Hiếu, cũng ngổ ngáo ngang ngược và đặc biệt có những yếutố, tôi đã nêu trên. Tôi đã lao vào những bài viết, hồi ký ngắn dài của Vĩnh Hiếu,để thẩm định cả một bối cảnh vùng cao nguyên BMT, khởi đầu dẫn dắt đến ngày30/4/1975 thương đau của dân tộc.
    Toàn bộnhững bài vở của Vĩnh Hiếu, tuy còn một số thiếu xót, nhưng đã ôm chặt bầu nhiệthuyết của một chàng trai thương yêu của mẹ Việt Nam. Do thế, nếu ai còn trăn trởkhắc khoải với dân tộc, quê hương, với ngày 30/4/1975 oan khiên, xin hãy tìm đọccuốn bút ký chiến trường “TRÊN VÒM TRỜI LỬAĐẠN” của Vĩnh Hiếu, phi công Phi Ðoàn 215 Thần Tượng.

Xin chânthành cảm ơn qúy vị.

Đặng Chí Bình


Phạm Tín An Ninh: Đọc Vĩnh Hiếu


  Cuộc chiến đã chấm dứt từ bao nhiêu năm qua. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấutích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa lành được vết thương trong lòng nhữngngười đã từng tham dự và chịu hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, người lính miềnNam, một thời chiến đấu dũng cảm trên các chiến trường để rồi phải đành bỏ cuộcnửa đường trong đớn đau tức tưởi. Những máu xương mà họ đã cống hiến cho đất nướcvà dân tộc, thời gian vẫn chưa đủ xa để có thể trôi vào quên lãng.

   Từnỗi oan khiên đó, bao năm qua, đã có nhiều người lính trong mọi quân binh chủngviết về cuộc chiến, kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiểnhách, ngỡ như không thể nào có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họkhông phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra,giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ vớinhững đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thờitrai trẻ với hào khí ngút trời, sẵn sàng chết cho quê hương. Và viết để cho concháu, các thế hệ sau này, hiểu được ít nhiều mục đích, tinh thần và khả năngchiến đấu của cha ông, trước các luận điệu đầu độc trên một số báo chí, phim ảnhcủa đám phản chiến hèn nhát cùng vài tay chính trị “phù thủy” Mỹ đốn mạt, cốtình trút hết tội lỗi trên đầu những người bạn đồng minh, trơ tráo bảo họ là“những người không muốn chiến đấu” nhằm chạy tội bội phản những gì mà chính phủMỹ đã từng long trọng cam kết. Trongsố những người lính cầm bút bất đắc dĩ ấy, nổi lên một cây bút tài tình, mà nhữngbài viết của anh đã hấp dẫn đông đảo độc giả, dù ngày xưa là dân hay lính, ngaycả những người đọc khó tính và không mấy thích chuyện chiến tranh - Đó là Cựuphi công Vĩnh Hiếu.
Trongcuộc chiến Việt Nam, những chàng phi công nổi tiếng hào hoa ở thành phố, là thầntượng của các cô con gái đẹp. Nhưng dường như không mấy ai biết rằng, nhữngchàng trai thích đi mây về gió ấy lại là những chiến sĩ rất gan dạ hào hùngtrên khắp các chiến trường lửa đạn. Bao phen vào sinh ra tử, xem cái chết tựalông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự củacác chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ chiến như chúng tôi, họ luônlà những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăntrên đường tiến quân truy kích địch. Họ đã từng âm thầm đáp xuống ngay trongvùng đất địch để thả và bốc lên những toán Viễn Thám, Biệt Kích, Lôi Hổ. Họcũng là những người nặng tình đồng đội, là ân nhân của những thương binh và giađình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của họ, đã cóbiết bao chiến binh phải vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừnglạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của PhiĐoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên cao nguyên trong những đêmkhuya gió mưa tầm tã, sương mù dày đặc. Có chiếc đâm vào vách núi nổ tung cùngvới số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi chỉ biết đứngnghiêm, ngậm ngùi đưa tay chào vĩnh biệt.
    Vĩnh Hiếu là một trong những người phicông ấy. Anhlà trưởng toán trực thăng võ trang (lead gun) của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Mộtphi đoàn trực thăng kỳ cựu. Căn cứ trú đóng tại thành phố biển Nha Trang anbình thơ mộng, nhưng như là những cánh chim trời, họ có mặt mỗi ngày trên khắpcác chiến trường Quân Khu 2 trong suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt, cam go vàbi tráng nhất.
Lãnhnhận nhiệm vụ hiểm nguy bậc nhất của phi đoàn, mỗi lần cất cánh là mỗi lần VĩnhHiếu bay tiên phong vào vùng lửa đạn. Chuyện sống chết chỉ còn là số mệnh. Cóthể nói anh là một trong những người lính tham dự nhiều mặt trận, nhiều cuộchành quân và yểm trợ phối hợp với nhiều đơn vị nhất. Không có địa danh nổi tiếngnào trên lãnh thổ Quân Khu 2 mà Vĩnh Hiếu chưa từng có mặt: Từ đường mòn Hồ ChíMinh, Tân Cảnh, Dakto, Dak Pek, Polei Kleng, Charlie, Kontum, Pleime, Benhet, củaTây Nguyên, đến An Lão,Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Bồng Sơn, Phù Cát, vùng đồngbằng bất an của tỉnh Bình Định, cái nôi của Liên Khu 5 VC, rồi Quảng Đức, BanMê Thuột, Khánh Dương,và cuối cùng là Tỉnh Lộ 7B, nối liền Pleiku - Phú Bổn -Phú Yên, với cuộc di tản kinh hoàng trong chiến sử. Không kể những lần phi đoàntăng phái cho các cuộc hành quân ngoài lãnh thổ quân khu.
Cólẽ những người tình của Vĩnh Hiếu không thể ngờ người phi công trai trẻ hào hoavui tính ấy đã từng bao lần bật khóc. Không chỉ khóc vì niềm vui sướng bất ngờkhi dồn dập nhận tin chiến thắng từ các đơn vị bộ chiến do phi đoàn anh đổquân, yểm trợ, mà còn khóc vì một vài căn cứ, vị trí của họ bị tràn ngập bởi biểnngười thí mạng của quân thù ngay dưới cánh quạt trực thăng của chính anh, khianh vừa liều mình xuống thấp để phải đau thắt ruột gan trút những trái hỏa tiễncuối cùng xuống trận địa, lúc khoảng cách giữa bạn – thù không còn lằn ranh nàophân biệt. Nỗi đau đớn tột cùng qua bao lần chứng kiến những người bạn cùng phiđoàn gãy cánh trên vòm trời lửa đạn.
Nhưlần tiếp tế khẩn cấp cho TĐ.11 Nhảy Dù tại căn cứ Charlie, vào những giờ phútcuối cùng, trong vòng vây thắt chặt và đạn pháo dồn dập của quân thù, một phicơ bạn bị phòng không địch bắn cháy ngùn ngụt giữa trời, Vĩnh Hiếu cố bay chiếcgunship đến thật gần con tàu bị nạn, hối hả gọi bạn đáp xuống dưới sự yểm trợ củamình, nhưng đã quá muộn. Con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịtmù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía “cockpit” để tránh sứcnóng bốc lên từ ngọn lửa đang bao trùm buồng máy. Tất cả đều trở thành vô vọng!
 Vĩnh Hiếu kể tiếp:“…con tàu không còn liên lạc được với thế giớibên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạmtriền núi vỡ bùng lên….Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt… Tôi chocon tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay vòng tròn trênchiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rờivùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẫn mịt mù một lần cuối rồi chuyểnhướng bay, nước mắt lưng tròng.”...
    Cùnglớn lên, cùng học chung dưới một mái trường trung học ở thành phố Nha Trang, vàPhi Đoàn 215 yểm trợ, phối hợp hành quân với đơn vị tôi từ lúc phi đoàn mớithành lập cho đến ngày cuối cùng cuộc chiến, vậy mà tôi chưa hề gặp “ngườihùng” Vĩnh Hiếu, dù đã bao lần tôi từng thán phục tài bay bổng và lòng gan dạ củangười lead gun Phi Đoàn Thần Tượng này.
Tôibiết Vĩnh Hiếu khá muộn màng, lúc những cánh chim Thần Tượng đã mất từ khá lâurồi bầu trời yêu dấu cũ. Ra hải ngoại, bất ngờ đọc được một vài bài viết củaanh rải rác trên các báo chí, và trên Internet. Tôi say mê, thích thú để sau đóđã tìm đọc gần như tất cả những bài viết khác của anh. Từ cách hành văn mạch lạc,giọng văn lúc nghiêm trọng căng thẳng, lúc vui đùa dí dỏm, cấu trúc câu chuyệnhấp dẫn bất ngờ, đến những tình tiết sống động, tạo cho người đọc cái cảm giácnhư đang cùng anh tham gia trận chiến, tai như còn đang nghe cả tiếng đạn bom lẫntrong âm thanh vần vũ của cánh quạt trực thăng. Điều thích thú là bên cạnh nhữngkhói lửa, chết chóc, anh rất tài tình làm dịu lại trí não của người đọc, khi mởra một vòm trời với bao hình ảnh  thơ mộng,hùng vĩ đang trải dài ra phía dưới.
Ngườiđọc có cảm giác như đang xem những bức tranh tuyệt đẹp của rừng núi, bờ biển,sông hồ và làng mạc quê nhà, được vẽ bởi bàn tay của một họa sĩ tài danh. Cókhi anh xen vào một vài tiếng chửi thề đúng lúc, đặc điểm, tính tình rất dễthương của đồng đội hay bóng dáng của những người tình đẹp thấp thoáng ở mộtnơi nào đó. Rất đúng với phong cách lính, và nhất là “lính tàu bay”. Ngoài ra,người đọc còn thích thú về sự bén nhạy và tinh tế của tác giả khi anh phântích, nhận định các tình huống chiến trường, cho dù bây giờ, tất cả đã trởthành quá khứ.
ĐọcVĩnh Hiếu, người ta cũng nhận ra tính nhân bản của người lính miền Nam. Rải ráctrong nhiều bài viết, anh kể lại tâm trạng lo âu, đắn đo đến độ căng thẳng thầnkinh, khi quyết định tiêu diệt các mục tiêu mà địch giả dạng làm những thườngdân, mặc dù đang ở ngay trong vùng địch. Anh chỉ nổ súng khi biết chắc họ khôngphải là thường dân, nhưng nhất định không để thoát một tên địch nào. Có lần baycho một vị đại tá tỉnh trưởng. Trong khi chờ để đón ông tại một vùng quê, mộtphi công khác, người bạn cùng phi đoàn thường bay chung với anh, bất ngờ nhìnthấy một bà mẹ nghèo ôm đứa con trai bị thương trên cổ mà không có thuốc men băngbó, bèn bàn với anh xạ thủ giấu hai mẹ con phía sau, để đưa về một bệnh viện dướitỉnh.
Cảmđộng nhất, có lẽ là một trong những phi vụ cuối cùng. Khi Vĩnh Hiếu bỏ tiền túivà tiền của mẹ cho thêm, đi mua bánh mì, nhờ ông anh rể vốn là một giáo sư phụlực, bay độc nhất một chiếc trực thăng võ trang ra vùng Tỉnh Lộ 7B trong lúcgiao tranh, thả bánh mì tiếp tế cho dân chạy loạn, rồi đáp xuống bốc một nhómngười kiệt sức. Vậy mà vẫn còn quay lại trút hỏa tiễn xuống đầu địch quân để cứunguy cho một toán Biệt Đông Quân bị vây trên một ngọn đồi. Đọc anh, cũng để thấynhững người lính Không Quân thực hiện hết lòng câu nói (của một nhà văn KhôngQuân, từng phục vụ cùng Phi Đoàn 215), đã trở thành châm ngôn, truyền thống củaquân chủng: “Không Bỏ Anh Em- Không Bỏ BạnBè”, khi Vĩnh Hiếu và nhiều phi công khác, bao lần bất chấp mọi hiểm nguy,đáp xuống trước nhiều họng súng đối phương để cứu nguy cho phi hành đoàn lâm nạn.
Xincám ơn các anh, cám ơn Vĩnh Hiếu. Những chiến sĩ từng sống chết với chúng tôi -những người lính bộ binh. Các anh là những cánh én đã từng mang lại bao mùaXuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải quabao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luônkhát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ.
Tiếcrằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽnhất, khi các anh còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vuiđùa trước lằn ranh sống - chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc
     Hãyđọc Vĩnh Hiếu, trong cuốn bút ký chiến trường “Trên Vòm Trời Lửa Đạn”, để thấylại trước mắt cả một bầu trời lửa đạn năm nào, khâm phục và tự hào những chiến sĩ anh hùng, những phi công tàiba, gan dạ nhưng cũng rất hào phóng, vị tha của QLVNCH, để hãnh diện là chúngta đã từng có một thời như thế.

  Phạm Tín An Ninh

Những Ngày Tháng Cuối

Trích:
  ..."Ngày10 tháng 3 năm 1975 Cộng Sản Bắc Việt khởi động cuộc chiến tấn công thành phốBan Mê Thuột. Ba ngày sau, 13 tháng 3, trái tim của miền cao nguyên đất đỏ rơivào tay địch quân.
      Ngày17 tháng 3, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân khỏi Quân khu II khỏiCao nguyên, bỏ trống Kontum, Pleiku.

     Ngày21 tháng 3 Huế thất thủ.
Ngày24 tháng 3 Quảng Đức và Quảng Ngãi rơi vào tay Cộng quân.
Ngày27 tháng 3, Đà Nẵng lung lay trước áp lực của Bắc Việt và lọt vào tay địch mộtvài ngày sau đó.
Ngày1 tháng 4, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang hoàn toàn lọt vào tay phía Bắc Việt, 14trên 44 tỉnh của miền Nam bị mất.
Ngày 16 tháng 4, hơn hai tuần lễ sau căn, cứPhan Rang thất thủ.
Ngày30 tháng 4, xe tăng Cộng Sản Bắc Việt ủi sập cổng dinh Độc Lập, chiếm thủ đôSài Gòn. Cuộc chiến tranh Việt Nam thật sự chấp dứt khi vị Tổng Thống cuối cùngcủa Việt Nam Cộng Hòa là Dương văn Minh đầu hàng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miềnNam Việt Nam. 
Từngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến tấn công Ban Mê Thuột đến ngày miền Nam thấtthủ chưa hơn một tháng hai mươi ngày! Chiếntranh Việt Nam đã bắt đầu vì sự “dính líu” của Hoa Kỳ và sau cùng chấm dứt cũngvì sự “tháo chạy” của Hoa Kỳ.
     Saukhi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, sự bành trướng của Cộng Sản được xem như là mộtđe dọa lớn cho thế giới tự do. Vì lẽ đó, miền Nam Việt Nam được những nhà lãnhđạo Mỹ xem như là một “tiền đồn chống Cộng” tại vùng Đông Nam Á. Khi Cộng Sản BắcViệt khởi sự cuộc xâm lấn, Hoa Kỳ bắt đầu yễm trợ quân sự và kinh tế cho miền Nam.Ngày 7 tháng 3 năm 1965, ba ngàn năm trăm Thuỷ quân Lục chiến của quân đội HoaKỳ lần đầu tiên đổ bộ lên bờ biển phía Bắc Đà Nẳng, khởi đầu giai đoạn Hoa Kỳthực sự tham chiến vào chiến tranh Việt Nam.
Chiếntranh Việt Nam kéo dài và gia tăng cường độ. Sự thiệt hại nhân mạng của lính Mỹlên cao, ngân quỹ chi phí cho chiến tranh càng gia tăng, cộng thêm phong tràophản chiến bành trướng mạnh trên đất Mỹ đã làm cho chính phủ Hoa Kỳ muốn rútchân ra khỏi “vũng lầy” Việt Nam.
Hòađàm Paris được Hoa Kỳ khởi xướng năm 1968, với mục đích hòa giải đôi bên, nhưngthực chất của nó là để Hoa Kỳ có lý do rút khỏi Việt Nam mà không mất mặt đối vớidư luận thế giới.
Sauchuyến viếng thăm Trung Hoa năm 1972 của Tổng Thống Nixon, sự bang giao giữaHoa Kỳ và Trung Cộng tiến triển, miền Nam Việt Nam bắt đầu mất vị thế quan trọngtrong vai trò “tiền đồn chống Cộng”. Hội đàm Paris được ký kết ngày 27 tháng 1năm 1973, với sự đồng ý miễn cưỡng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dưới áp lựcmạnh của phía Hoa Kỳ.
Năm1974, quốc hội Mỹ phủ quyết nghị định viện trợ tám trăm triệu đô la cho chínhphủ miền Nam đang thiếu hụt đạn dược, khí giới. Đó là một bản án tử hình cho miềnNam tự do. Năm tuần sau khi nghị định phủ quyết của Quốc hội Mỹ, CSBV sửa soạncuộc tổng công kích vào vùng Cao nguyên, sau khi biết chắc chắn Hoa Kỳ sẽ khôngcan thiệp. Cuộc chiến tranh Việt Nam coi như sắp chấm dứt, với một kết quả thấytrước.
Đầunăm 1975, khi tình báo ghi nhận và phát giác được nhiều hoạt động của Cộng Sảndọc theo biên giới Cambochia và Lào, Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 2 tiên đoán địch quânđang chuẩn bị một cuộc tổng công kích vào vùng Cao Nguyên. Trong buổi họp tạiQuân Đoàn 2, Tổng Thống Thiệu tiên đoán rằng Bắc quân sẽ tấn công Ban Mê Thuộtthay vì Pleiku. Tổng Thống Thiệu tin tưởng rằng vì Pleiku nằm giữa đồi núi trọc,địch quân sẽ không bao giờ muốn làm mồi cho phi pháo. Ngược lại Tướng Phạm VănPhú, Tư Lệnh Quân Khu II, nghĩ rằng Cộng Sản sẽ tấn công vào Pleiku, đầu não củaQuân Đoàn 2 qua những hoạt động ghi nhận được.
Thayvì đem hai Trung đoàn của Sư Đoàn 23 từ Plei xuống bảo vệBMT, Tướng Phú chỉ để Trung đoàn 53 trấn giữ thành phố với vài ba ngàn lính địaphương. Vàđúng như lời tiên đoán của Tổng Thống Thiệu, Bắc quân mở cuộc tấn công vàothành phố đất đỏ vào ngày 10 tháng 3 năm 75. Ba ngày sau Ba Mê Thuột mất vàotay Cộng Sản. Từ đó đã dẫn đến cuộc triệt thoái Cao Nguyên và đưa đến sự sụp đổtoàn diện của miền Nam. 
 Chiếntranh Việt Nam đã đi vào lịch sử. Những gì sau đây chỉ là những sự luận bàn đểgiải tỏa những uẩn ức, khắc khoải trong lòng tất cả những người lính đã thực sưtham chiến tại mặt trận vùng II trong những giờ phút cuối của cuộc chiến tranhphi lý này.
Haiquyết định tối quan trọng sau đây của cấp lãnh đạo trong giai đoạn tổng tấncông của CSBV, mặc dù sẽ không thay đổi được sự thắng bại, nhưng sẽ làm ảnh hưởnglớn lao đến hậu quả của cuộc chiến trong giai đoạn chung cuộc.
Hãyđi ngược dòng lịch sử với chữ “Nếu” và mỗi người Việt chúng ta sẽ suy ngẫm và tựtrả lời lấy câu hỏi:
-NếuThiếu Tướng Phú đưa mấy trung đoàn tinh nhuệ của Sư Đoàn 23 trấn thủ Ba Mê Thuộttrước khi Bắc quân mở cuộc tấn công thay vì cố thủ Pleiku hay là nếu Tổng ThốngThiệu ra lệnh tái chiếm Ba Mê Thuột bằng mọi giá, thay vì ra lệnh triệt thoáiQuân Đoàn 2 về miền duyên hải trong buổi họp các Tướng lãnh cao cấp tại CamRang ngày 14 tháng 3 năm 1975, thì hậu quả cuộc chiến sẽ thay đổi dưới hình thứcnào?
Đểcho sự nhận định được khách quan, sau đây là cuộc đối thoại của Tổng Thống NguyễnVăn Thiệu và Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trong buổi họp cao cấp, sau khi Bắc quânmở cuộc tổng công kích:
- “Thưa Tổng Thống, cho tôi đượctử thủ Pleiku, giữ cao nguyên. Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 trình vớivị Chỉ Huy Tối Cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
TổngThống Thiệu hỏi:  
-Tử thủ? Với quân số, đạn dược hiện có, liệu anh chiến đấu được bao nhiêu ngày vớiCộng Sản?  
-Thưa Tổng Thống từ 40 đến 60 ngày.  
-Rồi sao nữa?  
TướngPhú khựng lại, đưa mắt nhìn Tướng Viên cầu cứu, nhưng tướng Viên quay đi chỗkhác. Tướng Phú đáp:  
-Tôi sẽ chiến đấu đến cùng, cho đến khi không còn được tiếp tế súng đạn, lươngthực nữa.  Và tướng Phú vẫn liều lĩnh nói với giọng hơi lớn:  
-Thưa Tổng Thống, thưa quí vị tướng lãnh, nếu rút khỏi cao nguyên năm nay, thì mộtcuộc tấn công khác của Cộng Sản, có thể vào năm tới, sẽ làm mất duyên hải và mấtnước. Tôi và các chiến sĩ của tôi có chết ở cao nguyên bây giờ cũng không khácgì chết ở Sài Gòn trong năm tới.”  
Cuộcchiến tranh giữa hai miền Nam Bắc là một cuộc chiến tranh khốc liệt, phức tạp,khó hiểu mà sự thắng bại không định đoạt bằng lòng can đảm và ý chí chiến đấu củanhững người lính trên chiến trường mà trên của quyền lợi của những cường quốc.
Sựsụp đổ của miền Nam Tự Do là một nổi đau đớn vô cùng tận cho những người Việt đấutranh cho tự do, chính nghĩa. Đó là số phận chung mà tất cả chúng ta phải chấpnhận. Tuy nhiên chúng ta phải mãnh liệt tin tưởng rằng, một chế độ Cộng Sản độctài, đảng trị sẽ không thể nào tồn tại lâu dài khi tự do và hạnh phúc của conngười vẫn bị khống chế và áp bức!
Hãynhớ rằng, lịch sử chưa ngừng tại đây và đang còn tiếp diễn..."...   

Người Ở Lại Charlie

Trích:
"...Trên tần số cótiếng của Thiếu tá Phạm Bính:
- Mãnh Hổ, đây Charlie…Bốnchiếc “gun” của hai phi đoàn bạn đã đến vùng, bạn dẫn tất cả vào mục tiêu.
Tôi ngước đầunhìn, từ xa bốn chấm đen từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẩm tối.
- Charlie...đây Mãnh Hổ!..Cho biết vịtrí tác xạ chính xác? Tôi hỏi.
- Hổ đây Charlie!..hiệntại địch đã tràn ngập khắp mọi nơi, hai cao điểm thấp đã bị địch chiếm, chỉ cònđỉnh đồi Charlie đang còn giao tranh cận chiến… Bạn tự do oanh khích ngay trêncăn cứ Charlie!.. nghe rõ trả lời?…Thiếu tá Bính vừa dứt lời trên tần số, tôibàng hoàng không tin những gì mình vừa nghe được:
- Charlie đây Hổ!..Thiếu tá muốn tôi đánh ngay vào đỉnh đồi!?..
- Đúng năm! 

Tiếng nói rõràng và khẳng định của Charlie không còn làm tôi nghi ngờ gì nữa. Lần đầu tiênchứng kiến sự thất thủ của quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệbởi một lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVN/CH, đã từng chiến thắngbao nhiêu mặt trận, đã làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đảm, giờ đâyđang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối phương. Với sự hiểu biếthạn chế của một hoa tiêu trực thăng võ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuậtcủa bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy dù sở trường trong việc tấncông và chủ động trong chiến trường phải đóng trụ tại một cao điểm. Thụ động chờđợi địch là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù. Họ được huấn luyện để tấn công,không phải để giữ đồn.
Trong giờ phútnày không thấy bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cầnthiết nữa. Quân bạn có lẽ đã dùng hết tất cả mọi khả năng yễm trợ, sáu chiếc trựcthăng võ trang bây giờ chỉ còn là những vớt vát cuối cùng cố gây tổn thất tốiđa cho quân địch trước khi chúng hoàn thành mục đích của chúng.
Lấy tần số của Charlie,tôi liên lạc được với bốn chiếc “gun” của phi đoàn bạn và tất cả sáu chiếc theonhau đi vào vùng. Bầu trời đã tối lắm rồi, triền núi của ngọn “Rocket Ridge” mờẩn hiện sau nền trời đen xám. Từ trên cao độ tôi tiến gần vào mục tiêu, chỗ trủngthấp yên ngựa bãi đáp trực thăng cao điểm 960 là một trong ba cao điểm quen thuộccủa cụm đồi Charlie, nơi mà Trung úy Vân và phi hành đoàn đã bị bắn, và lêntheo triền dốc và phía Bắc vài trăm bộ là cao điểm thứ hai 1020 đã bị địch chiếm,chỉ còn lại cứ điểm cao nhất 1050 Charlie do Trung tá Nguyễn Đình Bảo chỉ huylà đang còn giao tranh. Bay đến gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đã cảmnhận được những trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung giữa những giao thônghào bể nát, những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù đang vậtlộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng…

Giờ phút này sựchính xác của những trái “rocket” của sáu chiếc trực thăng võ trang không còn cầnthiết nữa. Trên bãi chiến trường này, mãnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu.Sau khi thông báo cho những chiếc “gun” đang theo sau, tôi cho con tàu cỡ ngànbộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu xuống bắt đầu oanh kích. Những trái hỏa tiễn cháybùng nối đuôi lao xuống đỉnh núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung,tóe lửa. Những khẩu “mini-gun” quay vù tuông nhưng viên đạn lửa nối đuôi nhau tạomột đường đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo.
Theo sau nhữngchiếc “gun” tuần tự phóng những trái “rocket” xuống đỉnh núi, những đốm lửa lóelên bởi những trái “rocket” trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng phòngkhông của địch. Chung quanh đỉnh đồi bỗng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡnhư cây Noel trong đêm Giáng Sinh. Một rừng tên lửa đỏ lao về hướng những chiếctrực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số
-“ Phòngkhông!..phòng không!..Break!..break!..” Vừa la xong tôi kéo ngược con tàu lêncao. Những viên đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những vì sao xẹt.Không cần thiết phải có sự chính xác nữa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn “gun”xử dụng tất cả những đạn dược còn lại một lần cuối trước khi rời vùng.
Từ khoảng cáchkhá an toàn xa tầm bắn của những khẩu phòng không, tôi kéo con tàu nhổng đầulên phóng những trái “rocket” bắn vòng cầu như đạn pháo binh, những trái hỏa tiễnbiến mất vào khoảng không gian mù mịt rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa.Những mũi súng cao xạ của địch tức thì phản ứng, từ triền núi lấp:lánh nhữngánh lửa đỏ bay như mưa rào ngược về hướng những con tàu ẩn hiện trong bóng tối.
Tất cả đều vônghĩa! Trận đánh đã ngã ngũ! Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuốicùng trong vô vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không còn nữa, chỉ còn lại là dưâm của những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính dù đãanh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ,Trung tá Nguyễn đình Bảo.
-Hổ đây Charlie!..các bạn có thể trở về căn cứ. Thông báo cho tất cả biết trong vòng mười lămphút nữa sẽ có phi vụ B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hảy mau rời vùng!
Tiếng nói củaThiếu tá Phạm Bính lạnh lùng trên tần số.
Tôi quay đầu contàu rời vùng giao tranh, những đốm lửa lập lòe trên ngọn đồi Charlie đangchìm dần vào bóng tối. Trung úy Nguyễn Tường Vân, Thiếu úy Trần Văn Long và phihành đoàn cùng tất cả những chiến sĩ Dù đã ở lại ngọn đồi Charlie, mãi mãi… Xaxa, thành phố Pleiku đã lên đèn, một vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nhòa ẩn hiện,không biết vì đêm đen hay vì dòng lệ đã trào dâng lên khóe mắt ?
Anhnằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đă bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời, ru anh ngủ vùi,
Mùa mưa tớitrong nghĩa trang này có loài chim thôi!..

Văng vẳng đâuđây, âm thanh ì ầm rung chuyển bầu khí quyển từ thảm bom của những chiếc pháođài bay B-52 vang vọng…

Vĩnh Biệt Nha Trang

Trích:
 ..."Ngồilặng yên suy tư thẩn thờ trên ghế salon một mình hồi lâu, bên ngoài trời đã tốihẳn. Cảm thấy đói, tôi đứng dậy bước ra sân, lững thững đi bộ đến đầu đường BiệtThự để kiếm gì ăn lót bụng. Ngoài đường, mọi sự đi lại đã bắt đầu thưa thớt, thỉnhthoảng một chiếc xe nhà binh chạy vụt ngang, vội vã… Những cột đèn điện bên đườngchiếu xuống mặt đường nhựa ánh sáng vàng vọt. Đang rảo bước bên lề đường, độtnhiên tiếng nói của người bán hàng bên lề làm ngưng dòng tư tưởng đang miên mantrong đầu:
-Mở hàng dùm em đi anh...
Ngaydưới chân cột đèn, kế bên đường một người đàn bà khoảng ba mươi, trong bộ đồ bàba bông, đang ngồi lúi lúi quạt lò than, trên tấm vỉ sắt có mấy trái bắp nướng.Kế bên là một đứa bé gái khoảng năm bảy tuổi ngồi trên chiếc ghế nhựa bé tí, gầncái thúng đựng bắp tươi. Lò than cháy lốp đốp, nổ văng những đốm lửa đỏ baytrong không khí. Cách đó vài thước có hai chiếc xe xích lô đậu sát nhau, haingười đàn ông gầy ốm đang ngồi trên ghế trước đấu láo chờ khách.
Tôinhìn chị bán hàng lắc đầu:
-Không!.. cám ơn chị.
-Bắp non ngọt lắm, mua dùm em đi anh!
Ngườiđàn bà nài nỉ. Tôi đứng lại. Những người đang ở trước mặt tôi vẫn sinh hoạtbình thường để kiếm miếng cơm, manh áo, không hề quan tâm đến biến động của thờicuộc. Chắc họ không có gì để mất và không có gì để lo sợ.
-Chị bán có khá không ?
-Ế lắm anh ơi…, giờ này thiên hạ lo chạy, ít người đi ra đường lắm.
-Sao chị không lo kiếm đường chạy mà còn ngồi đây bán? Tôi hỏi.
Ngườibàn bà, tay phe phẩy quạt lò, tay trở mấy trái bắp cho đều:
-Có đồng mô trong túi mà chạy anh,.. mà không biết chạy đi chỗ mô. Còn chồng emthì đi lính mất biệt, mấy năm ni không thấy về thăm nhà. Chừ em cũng không biếtanh đang ở chỗ mô nữa.
Vừanói xong người đàn bà gắp một trái bắp nướng còn nóng bỏng trên lò xuống đểtrên miếng giấy dưới đất trước mặt đứa con gái.
-Ăn đi con!
Tôilắng nghe người đàn bà nói tiếng Huế trong một âm điệu thật bình thản…Hình nhưcô ta đã quá quen với gian khổ. Khuôn mặt của người đàn bà phản chiếu ánh lửa hồngbập bùng của lò than vẫn còn phảng phất một nét mặn mà duyên dáng của người congái đất Thần Kinh, cho dù đã sống trong những ngày tháng lam lũ khổ cực. Nỗicay đắng, xót xa ngập tràn, xót thương cho thân phận của một con người. Tôi liếcnhìn vỉ sắt trên lò than rồi chợt đổi ý, chỉ vào hai trái bắp cháy vàng:
-Này,..chị bán cho tôi hai trái đi, đừng trét mỡ hành nghe!
Đợingười đàn bà gói xong hai trái bắp trong lá chuối, tôi thò tay móc túi đưa chịtờ giấy bạc xong quay người cất bước không chờ lấy tiền thối. Đi một khoảng ngắn,tôi đến trước quán Mộng. Quán đã đóng cửa tắt đèn. Tôi nhìn đồng hồ chưa tớitám giờ tối. Chắc mấy cô chủ quán đã rời thành phố rồi. Bước tới gần khung cửalớn bằng kiếng, ghé mắt nhìn vào trong, những bộ bàn ghế bằng mây, trải khăn trắngtoát trông lịch sự đang im lìm trong bóng tối mờ mờ từ ánh đèn đường hắt vào.Hình ảnh một quán ăn quen thuộc, đầy thực khách cùng những tiếng cười nói vui vẻnhư đang trở lại trong tiềm thức của tôi..."
..................
..."Điềuđã làm cho tôi cảm thấy éo le, nếu là không nói khôi hài trong cuộc đời chinhchiến, là một lần lãnh một viên đạn vào người và một lần đối diện với nhữngviên đạn trong đường tơ kẽ tóc, mạng sống tưởng chừng như đã đi đứt. Hai lần đókhông xãy ra trên trời cao khi đối đầu với quân địch, mà ở dưới đất, sau khi đãan toàn trở về từ mặt trận. Người ta thường hay nói: “Đi sông đi biển không chếtmà chết vì con lạch cỏn con”. Những chuyện tôi sắp viết lên đây để sẽ nói lên sựtrớ trêu đó.
Trongnhững lần đi chơi ngoài phố, ban đêm tôi luôn luôn lận khẩu súng 22 ly nhỏ nhưgói thuốc lá vào lưng quần dấu dưới áo khoác, để bảo vệ tánh mạng trong nhữngtrường hợp nguy hiểm xãy ra bất ngờ. Khẩu súng đó đã được phi đoàn trưởng củatôi, Trung Tá Khưu Văn Phát, tặng riêng trong một trường hợp đặc biệt.
Mộtđêm khoảng hai giờ sáng, sau đi chơi trở về nhà với hai người bạn gái trên xe Jeepcủa ông bạn tôi, Trung úy Thủy, Trưởng phòng nhiên liệu Không Đoàn 62/CT. Bướcchân vào nhà, người đã mệt mỏi, mạnh cặp nào về phòng nấy. Tôi uể oải thay áoquần. Khi mở giây nịt, tháo nút quần, tôi quên bẵng mất khẩu 22 đang nhét bênhông. Khẩu súng rớt xuống ngay trên sàn gạch bông.
-Đoành!…Một tiếng nổ như tiếng pháo chuột vang lên trong đêm vắng.
Giậtmình tôi nhìn xuống dưới, khẩu súng lục xinh xắn màu đen đang nằm trên sàn gạchnhà giữa hai bàn chân tôi. Cúi xuống lượm và ngạc nhiên khi thấy từ ống quần mộtgiòng máu đỏ tươi đang chảy xuống bàn chân trắng bóc suốt ngày mang giày “bốt đờsô” của tôi. Sững sờ, tôi vén vội quần theo ngược dòng máu đỏ, một lổ nhỏ như đầuđủa nằm ngay bên trong bắp chuối, máu đang trào ra. Vội vã lấy ngón tay bịtngay lổ để làm ngưng máu chảy, đồng thời tôi nghiêng đầu nhìn bên ngoài bắp đùi“hy vọng” tìm lổ thoát ra của viên đạn. Tôi không thấy gì ngoài một cục u nhỏtrồi lên - viên đạn đã đi xéo trong bắp thịt, tới gần da thì ngừng lại. Tôi bópnhẹ bên ngoài thấy rõ ràng hình dáng của viên đạn nhỏ như đầu đủa đang nằm “yênnghỉ” trong thớ thịt. Lạ lùng thay, tôi không có một chút cảm giác đau nhức nàocả.
Vừalúc đó, người bạn gái tôi từ buồng tắm chạy ra cùng với hai người kia từ phòngkhác chạy vào. Tất cả cùng la:
-Trời đất ơi, chuyện gì vậy ?
-Không có gì đâu…mẹ,… xui quá, quên hẳn khẩu súng nhét trong người. Tôi cố lấygiọng bình tĩnh, rồi như tự an ủi, tôi nói tiếp:
-May mà nó trúng bắp chuối chứ lên thẳng một chút nữa đúng ngay giữa hai chânthì tàn đời…
Mọingười bu quanh nhìn vào chân tôi, không ai cười cả. Trung úy Thủy lên tiếng:
-Thôi, tao phải đưa mày đi nhà thương rồi. Hai cô này thay đồ đi. Đại khái thôi,nhanh lên!..
Thếlà tôi lại phải choàng vai hai người bạn gái khập khểnh leo lên xe Jeep cùng vớiThủy nhà thương trực chỉ. Tôi lầm bầm chửi thầm số con rệp khi nghĩ đến phải bỏchiếc gường êm ấm và người bạn gái để lên nằm trên chiếc băng ca lạnh lẽo trongđêm khuya khoắc như thế này.
Chưahết chuyện!..
Sau một đêm cô đơn trằn trọc trên chiếc băng ca lạnh lẽo, với viênđạn còn nằm trong bắp chuối, tôi thức dậy khi nghe có tiếng ai nói lớn:.
-“Ê!..dậyđi ăn sáng!..Giờ này mà còn ngủ!..
Mởchoàng mắt ra, trước mặt tôi là Trung úy Thủy và ba bốn cô gái, trong đó có“người đẹp” của tôi đang đứng vây xung quanh. Người chưa tỉnh hồn, mấy con menrượu vẫn còn lẩn quẩn trong người chưa chịu giải tán, tôi lè nhè:
-“Điđâu được!..Chờ chút nữa bác sĩ vào mổ lấy đạn ra xong,..rồi đi đâu thì đi!..
-“Điđi!..ăn tí rồi về anh, hôm nay chủ nhật mà…Đi ra quán số một ở biển ăn cho vuianh!..”Thấy người bạn gái năn nỉ, tôi không cưỡng lại được, ngồi dậy nói:
-“OK!..đithì đi,.. nhưng Thủy,..mày phải đưa tao về sớm sớm nghe!”
Thếlà tôi khập khễnh cùng cả đám chồng chất lên chiếc xe Jeep xanh không quân củaTrung úy Thủy kéo nhau đi. Sau một thời gian dây dưa, đám “lâu la” chở tôi vềnhà thương Quân Y Viện. Vừa bước chân vào phòng mổ, gặp ngay anh Trung sĩ y táđang đứng xớ rớ. Anh này liền phạng cho tôi một câu:
-“Bácsĩ Đoàn Yến mới đi mấy phút đó...Ổng la tui quá trời…sao lại để cho Trung úy đivậy…Chút nữa ổng trở lại đó! Thiệt tình tui chưa gặp ai mà cho bác sĩ chờ như Trungúy cả!..” Nghe xong tôi không nói một câu, nhăn mặt leo lên băng ca…đưa tay bópviên đạn thấy đau đau."…

Ngày Chim Vỡ Tổ

Trích:
..."Mộttrường hợp hoa tiêu bị “vertigo” đã xãy ra cho một phi hành đoàn Thần Tượng.Đây có thể nói là một giai thoại hay cũng là một bi hài kịch. Anh em trong phiđoàn khi được nghe kể lại đã cười ra nước mắt!

Trongmột phi vụ trở về Nha Trang từ phi trường Pleiku, Trung úy Hòa “test” (testpilot) trưởng phi cơ đã bay cùng với Trung úy Tân “kiến” là hoa tiêu phó. Ngồithùng - danh từ của trực thăng ám chỉ những hoa tiêu ngồi phía sau khoang tàu-có khoảng ba bốn hoa tiêu của phi đoàn cùng mấy người mê vô xạ thủ trở về căn cứgốc sau hai tuần biệt phái tại Pleiku.
Đường về NhaTrang từ Pleiku vào mùa mưa hay bị sương mù che phủ, trần mây thấp. Mấy năm trướcđây, một chiếc máy bay của phi đoàn Thần Tượng đã đâm sầm vào triền núi vào mộtbuổi chiều mù sương trên đường trở về căn cứ Nha Trang. Không một ai trên tàu sốngsót. Ngày hôm đó cho dù thời tiết rất xấu, Trung úy Hòa ngồi ghế trưởng phi cơđã quyết định cất cánh bay về Nha Trang.
     Sau hơn ba mươiphút bay, khi tàu vừa qua khỏi Cheo reo, Phú Bổn thì thời tiết càng tệ hại. Bầukhông khí mù mịt, nặng chĩu hơi sương. Trong phòng lái, Trung úy Hòa nhìn ra ngoàitrời, trong lòng bấn loạn. Chiếc trực thăng đơn độc tiếp tục lầm lũi lướt trênmặt rừng cây, bay xuyên qua những cụm mây treo lơ lững trong không khí. Trầnmây xám xịt mỗi lúc mỗi hạ thấp dần trên mặt rừng âm u. Thấy thời tiết quá biđát, Trung úy Hòa quyết định quay trở về Pleiku trước khi quá trễ.
Thình lình, giữatrần mây xám trước mặt tàu một khoảng trống nhỏ vừa hé mở, để lộ bầu trời trongxanh. Như tìm được lối thoát, không một giây suy nghĩ, Trung úy Hòa kéo cầnlái. Chiếc trực thăng ngóc đầu vươn lên cao độ chui qua lỗ trống. Chưa lên tớinửa tần mây, bầu trời xanh đột nhiên biến mất. Mây trắng bủa vây chiếc trựcthăng chậm chạp. Từ phòng lái nhìn ra chỉ thấy toàn một màu mây trắng đục. Bênghế co-pilot, Tân “kiến” tái xanh mặt, còn Trung úy Hòa thì thất thần, tay cầmcần lái mắt mở lớn nhìn vào dãy đồng hồ trước mặt. Ba đồng hồ quan trọng nhấttrong trường hợp bay vào mây là đồng hồ vận tốc, đồng hồ cao độ và đồng hồ vịthế -gyroscope dùng để chỉ vị thế của con tàu đối với đường chân trời.
Sau vài phúttrong mây mù, Trung úy Hòa mất bình tĩnh, tay chân bắt đầu quờ quạng thấy rõ.Ngồi ngay sau hai ghế bay là Trung úy Vinh và Trung úy Học, hai hoa tiêu ngườiHuế, có giọng nói đặc kẹo, đang chen nhau chồm về phía trước. Đột nhiên Trungúy Học chỉ vào cái đồng hồ trước mặt, la lớn:
-“Ê!..ê…ê…, coichừng!”
Bốn cặp mắt đổ dồnvào cái đồng hồ vận tốc đang chỉ gần như “zero” knot! Chiếc trực thăng hầu nhưđang đứng lại giữa không trung. Trung úy Tân “kiến” là người có phản ứng đầutiên, vội thò tay nắm cần lái (cyclic) đẩy về phía trước. Kim đồng hồ vận tốctăng dần…Trong vài phút sau, chiếc trực thăng đột ngột rung mạnh. Đồng hồ chỉ vậntốc con tàu đang bay 120 knots và đang gia tăng tốc độ - vận tốc tối đa củaUH-1 là 120 knots.
-“Trời!…trời!…trời!…kẹo…kẹo…kẹo”. Ngồi sau, Trung úy Vinh “huế” vừa chồm người lên trên “cockpit”,miệng vừa la làng, vừa vói tay chụp cần lái trước mặt Trung úy Hòa kéo về phíasau.
-“Đậy…, đậy…!” Tớiphiên Trung úy Học hốt hoảng chồm người đẩy cần lái về phía trước.
-“Kẹo!…kẹo…, kẹo!”Vinh “huế” lắp bắp: “Đ. mạ chết tui rồi!…trời đất ơi là trời đất!…sao mà con ‘vặng’số thế này! Kẹo,.. kẹo…! Trời ơi là trời!…” Tiếng la ai oán của Trung úy Vinh“huế” càng làm gia tăng thêm vẽ kinh hoàng trong lòng những ‘chiến sĩ của khônggian”.
-“Trại!…trại…,trại.” Tới phiên Trung úy Học. Anh nhào tới phía trước chụp cần lái trước mặtTân “kiến” bẻ qua bên trái. Trên đồng hồ vị thế chỉ con tàu đang nghiêng hẳn vềphía bên phải.
Bốn anh hoa tiêucùng lái con tàu một lúc!
Hết “đậy, đậy rồitới kẹo kẹo!” Hết “trại, trại rồi phại, phại!” Chiếc trực thăng bồng bềnh, ngảnghiêng, gục ngặc như chiếc lá vàng đang trôi nổi trên con thác lũ hơn mườiphút đồng hồ. Phía sau sàn tàu, mọi người nhốn nháo, nhìn tứ phía bốn bề. Mộtanh mê vô đang lầm bầm đọc kinh. Kế đó là Trung úy Phạm Mẫn đang lết người rangồi sát cửa, sẵn sàng để nhảy ra khỏi tàu. Làn da ngâm đen “mặn mà” của anh bắtđầu đổi sang màu xám xịt! Không có một ngôn từ nào đủ để diễn tả sự kinh hoàngkhủng khiếp đang ngự trị trên chiếc trực thăng “khốn khổ” này.
Hơn mười phút vậtlộn với tử thần trôi qua như bất tận…Hình như Thần chết đã chán chê đùa dỡntánh mạng của gần mười anh nhân viên phi hành, bỏ lửng trò chơi ngang xương! Bầutrời bỗng dưng trong sáng! Mây mù biến mất như một phép lạ. Tất cả mọi người háhốc nhìn ra ngoài. Ngay trước mặt chiếc trực thăng sừng sững vách núi đá dựng đứng.Chiếc trực thăng đang ở trong một vị thế bay ngang như một con cua… suýt bịrang muối.
Dãynúi Mẹ Bồng Con nằm giữa Tuy Hòa và Nha Trang đang chạy dài trước mặt. Hai viênphi công run rẩy lết về Nha Trang. Tất cả mọi người trên tàu còn bàng hoàngchưa tỉnh cơn ác mộng, không ai còn sức mở miệng nói một lời nào. Gần hai mươiphút bay sau, những nhịp đập cuồng loạn trong trái tim tất cả những người trai trẻđã chậm lại, phi trường Nha Trang hiện ra dưới một bầu trời hanh nắng. Tại bãiđáp, Trung úy Hòa “test” đã mất hơn hai phút đồng hồ để đặt hai cái càng củachiếc máy bay trực thăng xuống mặt đất cao…không quá một sải tay!..."