Cuộc chiến đã chấm dứt từ bao nhiêu năm qua. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấutích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa lành được vết thương trong lòng nhữngngười đã từng tham dự và chịu hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, người lính miềnNam, một thời chiến đấu dũng cảm trên các chiến trường để rồi phải đành bỏ cuộcnửa đường trong đớn đau tức tưởi. Những máu xương mà họ đã cống hiến cho đất nướcvà dân tộc, thời gian vẫn chưa đủ xa để có thể trôi vào quên lãng.
Từnỗi oan khiên đó, bao năm qua, đã có nhiều người lính trong mọi quân binh chủngviết về cuộc chiến, kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiểnhách, ngỡ như không thể nào có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họkhông phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra,giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ vớinhững đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thờitrai trẻ với hào khí ngút trời, sẵn sàng chết cho quê hương. Và viết để cho concháu, các thế hệ sau này, hiểu được ít nhiều mục đích, tinh thần và khả năngchiến đấu của cha ông, trước các luận điệu đầu độc trên một số báo chí, phim ảnhcủa đám phản chiến hèn nhát cùng vài tay chính trị “phù thủy” Mỹ đốn mạt, cốtình trút hết tội lỗi trên đầu những người bạn đồng minh, trơ tráo bảo họ là“những người không muốn chiến đấu” nhằm chạy tội bội phản những gì mà chính phủMỹ đã từng long trọng cam kết. Trongsố những người lính cầm bút bất đắc dĩ ấy, nổi lên một cây bút tài tình, mà nhữngbài viết của anh đã hấp dẫn đông đảo độc giả, dù ngày xưa là dân hay lính, ngaycả những người đọc khó tính và không mấy thích chuyện chiến tranh - Đó là Cựuphi công Vĩnh Hiếu.
Trongcuộc chiến Việt Nam, những chàng phi công nổi tiếng hào hoa ở thành phố, là thầntượng của các cô con gái đẹp. Nhưng dường như không mấy ai biết rằng, nhữngchàng trai thích đi mây về gió ấy lại là những chiến sĩ rất gan dạ hào hùngtrên khắp các chiến trường lửa đạn. Bao phen vào sinh ra tử, xem cái chết tựalông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự củacác chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ chiến như chúng tôi, họ luônlà những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăntrên đường tiến quân truy kích địch. Họ đã từng âm thầm đáp xuống ngay trongvùng đất địch để thả và bốc lên những toán Viễn Thám, Biệt Kích, Lôi Hổ. Họcũng là những người nặng tình đồng đội, là ân nhân của những thương binh và giađình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của họ, đã cóbiết bao chiến binh phải vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừnglạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của PhiĐoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên cao nguyên trong những đêmkhuya gió mưa tầm tã, sương mù dày đặc. Có chiếc đâm vào vách núi nổ tung cùngvới số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi chỉ biết đứngnghiêm, ngậm ngùi đưa tay chào vĩnh biệt.
Vĩnh Hiếu là một trong những người phicông ấy. Anhlà trưởng toán trực thăng võ trang (lead gun) của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Mộtphi đoàn trực thăng kỳ cựu. Căn cứ trú đóng tại thành phố biển Nha Trang anbình thơ mộng, nhưng như là những cánh chim trời, họ có mặt mỗi ngày trên khắpcác chiến trường Quân Khu 2 trong suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt, cam go vàbi tráng nhất.
Vĩnh Hiếu là một trong những người phicông ấy. Anhlà trưởng toán trực thăng võ trang (lead gun) của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Mộtphi đoàn trực thăng kỳ cựu. Căn cứ trú đóng tại thành phố biển Nha Trang anbình thơ mộng, nhưng như là những cánh chim trời, họ có mặt mỗi ngày trên khắpcác chiến trường Quân Khu 2 trong suốt thời kỳ chiến tranh ác liệt, cam go vàbi tráng nhất.
Lãnhnhận nhiệm vụ hiểm nguy bậc nhất của phi đoàn, mỗi lần cất cánh là mỗi lần VĩnhHiếu bay tiên phong vào vùng lửa đạn. Chuyện sống chết chỉ còn là số mệnh. Cóthể nói anh là một trong những người lính tham dự nhiều mặt trận, nhiều cuộchành quân và yểm trợ phối hợp với nhiều đơn vị nhất. Không có địa danh nổi tiếngnào trên lãnh thổ Quân Khu 2 mà Vĩnh Hiếu chưa từng có mặt: Từ đường mòn Hồ ChíMinh, Tân Cảnh, Dakto, Dak Pek, Polei Kleng, Charlie, Kontum, Pleime, Benhet, củaTây Nguyên, đến An Lão,Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Bồng Sơn, Phù Cát, vùng đồngbằng bất an của tỉnh Bình Định, cái nôi của Liên Khu 5 VC, rồi Quảng Đức, BanMê Thuột, Khánh Dương,và cuối cùng là Tỉnh Lộ 7B, nối liền Pleiku - Phú Bổn -Phú Yên, với cuộc di tản kinh hoàng trong chiến sử. Không kể những lần phi đoàntăng phái cho các cuộc hành quân ngoài lãnh thổ quân khu.
Cólẽ những người tình của Vĩnh Hiếu không thể ngờ người phi công trai trẻ hào hoavui tính ấy đã từng bao lần bật khóc. Không chỉ khóc vì niềm vui sướng bất ngờkhi dồn dập nhận tin chiến thắng từ các đơn vị bộ chiến do phi đoàn anh đổquân, yểm trợ, mà còn khóc vì một vài căn cứ, vị trí của họ bị tràn ngập bởi biểnngười thí mạng của quân thù ngay dưới cánh quạt trực thăng của chính anh, khianh vừa liều mình xuống thấp để phải đau thắt ruột gan trút những trái hỏa tiễncuối cùng xuống trận địa, lúc khoảng cách giữa bạn – thù không còn lằn ranh nàophân biệt. Nỗi đau đớn tột cùng qua bao lần chứng kiến những người bạn cùng phiđoàn gãy cánh trên vòm trời lửa đạn.
Nhưlần tiếp tế khẩn cấp cho TĐ.11 Nhảy Dù tại căn cứ Charlie, vào những giờ phútcuối cùng, trong vòng vây thắt chặt và đạn pháo dồn dập của quân thù, một phicơ bạn bị phòng không địch bắn cháy ngùn ngụt giữa trời, Vĩnh Hiếu cố bay chiếcgunship đến thật gần con tàu bị nạn, hối hả gọi bạn đáp xuống dưới sự yểm trợ củamình, nhưng đã quá muộn. Con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịtmù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía “cockpit” để tránh sứcnóng bốc lên từ ngọn lửa đang bao trùm buồng máy. Tất cả đều trở thành vô vọng!
Vĩnh Hiếu kể tiếp:“…con tàu không còn liên lạc được với thế giớibên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạmtriền núi vỡ bùng lên….Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt… Tôi chocon tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay vòng tròn trênchiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rờivùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẫn mịt mù một lần cuối rồi chuyểnhướng bay, nước mắt lưng tròng.”...
Cùnglớn lên, cùng học chung dưới một mái trường trung học ở thành phố Nha Trang, vàPhi Đoàn 215 yểm trợ, phối hợp hành quân với đơn vị tôi từ lúc phi đoàn mớithành lập cho đến ngày cuối cùng cuộc chiến, vậy mà tôi chưa hề gặp “ngườihùng” Vĩnh Hiếu, dù đã bao lần tôi từng thán phục tài bay bổng và lòng gan dạ củangười lead gun Phi Đoàn Thần Tượng này.
Tôibiết Vĩnh Hiếu khá muộn màng, lúc những cánh chim Thần Tượng đã mất từ khá lâurồi bầu trời yêu dấu cũ. Ra hải ngoại, bất ngờ đọc được một vài bài viết củaanh rải rác trên các báo chí, và trên Internet. Tôi say mê, thích thú để sau đóđã tìm đọc gần như tất cả những bài viết khác của anh. Từ cách hành văn mạch lạc,giọng văn lúc nghiêm trọng căng thẳng, lúc vui đùa dí dỏm, cấu trúc câu chuyệnhấp dẫn bất ngờ, đến những tình tiết sống động, tạo cho người đọc cái cảm giácnhư đang cùng anh tham gia trận chiến, tai như còn đang nghe cả tiếng đạn bom lẫntrong âm thanh vần vũ của cánh quạt trực thăng. Điều thích thú là bên cạnh nhữngkhói lửa, chết chóc, anh rất tài tình làm dịu lại trí não của người đọc, khi mởra một vòm trời với bao hình ảnh thơ mộng,hùng vĩ đang trải dài ra phía dưới.
Ngườiđọc có cảm giác như đang xem những bức tranh tuyệt đẹp của rừng núi, bờ biển,sông hồ và làng mạc quê nhà, được vẽ bởi bàn tay của một họa sĩ tài danh. Cókhi anh xen vào một vài tiếng chửi thề đúng lúc, đặc điểm, tính tình rất dễthương của đồng đội hay bóng dáng của những người tình đẹp thấp thoáng ở mộtnơi nào đó. Rất đúng với phong cách lính, và nhất là “lính tàu bay”. Ngoài ra,người đọc còn thích thú về sự bén nhạy và tinh tế của tác giả khi anh phântích, nhận định các tình huống chiến trường, cho dù bây giờ, tất cả đã trởthành quá khứ.
ĐọcVĩnh Hiếu, người ta cũng nhận ra tính nhân bản của người lính miền Nam. Rải ráctrong nhiều bài viết, anh kể lại tâm trạng lo âu, đắn đo đến độ căng thẳng thầnkinh, khi quyết định tiêu diệt các mục tiêu mà địch giả dạng làm những thườngdân, mặc dù đang ở ngay trong vùng địch. Anh chỉ nổ súng khi biết chắc họ khôngphải là thường dân, nhưng nhất định không để thoát một tên địch nào. Có lần baycho một vị đại tá tỉnh trưởng. Trong khi chờ để đón ông tại một vùng quê, mộtphi công khác, người bạn cùng phi đoàn thường bay chung với anh, bất ngờ nhìnthấy một bà mẹ nghèo ôm đứa con trai bị thương trên cổ mà không có thuốc men băngbó, bèn bàn với anh xạ thủ giấu hai mẹ con phía sau, để đưa về một bệnh viện dướitỉnh.
Cảmđộng nhất, có lẽ là một trong những phi vụ cuối cùng. Khi Vĩnh Hiếu bỏ tiền túivà tiền của mẹ cho thêm, đi mua bánh mì, nhờ ông anh rể vốn là một giáo sư phụlực, bay độc nhất một chiếc trực thăng võ trang ra vùng Tỉnh Lộ 7B trong lúcgiao tranh, thả bánh mì tiếp tế cho dân chạy loạn, rồi đáp xuống bốc một nhómngười kiệt sức. Vậy mà vẫn còn quay lại trút hỏa tiễn xuống đầu địch quân để cứunguy cho một toán Biệt Đông Quân bị vây trên một ngọn đồi. Đọc anh, cũng để thấynhững người lính Không Quân thực hiện hết lòng câu nói (của một nhà văn KhôngQuân, từng phục vụ cùng Phi Đoàn 215), đã trở thành châm ngôn, truyền thống củaquân chủng: “Không Bỏ Anh Em- Không Bỏ BạnBè”, khi Vĩnh Hiếu và nhiều phi công khác, bao lần bất chấp mọi hiểm nguy,đáp xuống trước nhiều họng súng đối phương để cứu nguy cho phi hành đoàn lâm nạn.
Xincám ơn các anh, cám ơn Vĩnh Hiếu. Những chiến sĩ từng sống chết với chúng tôi -những người lính bộ binh. Các anh là những cánh én đã từng mang lại bao mùaXuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải quabao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luônkhát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ.
Tiếcrằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽnhất, khi các anh còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vuiđùa trước lằn ranh sống - chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc
Hãyđọc Vĩnh Hiếu, trong cuốn bút ký chiến trường “Trên Vòm Trời Lửa Đạn”, để thấylại trước mắt cả một bầu trời lửa đạn năm nào, khâm phục và tự hào những chiến sĩ anh hùng, những phi công tàiba, gan dạ nhưng cũng rất hào phóng, vị tha của QLVNCH, để hãnh diện là chúngta đã từng có một thời như thế.

No comments:
Post a Comment